Ảnh hưởng của chế độ ăn uống đối với bệnh ung thư vẫn là chủ đề của nhiều nghiên cứu. Tuy nhiên, một số liên kết dường như đã được chứng minh ngày nay. Protein, lipid, vitamin, chất chống oxy hóa.

Trong 20 năm, mối liên hệ giữa tiêu thụ thực phẩm và ung thư đã là chủ đề thu hút sự quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu và công chúng. Tuy nhiên, mối quan hệ nguyên nhân và kết quả giữa một loại thực phẩm cụ thể và một căn bệnh ung thư như vậy vẫn chưa được thiết lập rõ ràng. Các nghiên cứu dịch tễ học lớn đang được tiến hành ở một số quốc gia sẽ cung cấp bằng chứng mới trong những năm tới. Tuy nhiên, rất nhiều kiến ​​thức về vai trò của một số loại thực phẩm đã có sẵn.

Lipid

Tần suất ung thư vú cao hơn ở các nước Châu Âu và Bắc Mỹ. Tần suất cao này được cho là do lượng lipid tiêu thụ nhiều hơn. Tuy nhiên, người ta vẫn chưa chỉ ra được cơ chế nào mà việc tiêu thụ quá nhiều lipid thực sự ảnh hưởng đến sự xuất hiện của bệnh ung thư này. Tương tự như vậy, việc tiêu thụ chất béo, đặc biệt là axit béo bão hòa, có thể làm tăng nguy cơ ung thư ruột kết (cũng phổ biến hơn ở các nước giàu ở châu Âu và Bắc Mỹ) nhưng không rõ bằng cách nào. Về vấn đề này, nghiên cứu đang hướng tới việc nghiên cứu các axit béo cụ thể như omega 6 hoặc omega 3.

Cồn

Uống rượu làm tăng nguy cơ ung thư miệng, thanh quản, hầu, thực quản, phổi và gan. Người ta đã chứng minh rằng nguy cơ này tăng lên khi tiêu thụ đồ uống có cồn, và nguy cơ này còn tăng lên khi hút thuốc.

Sợi

Một chế độ ăn uống rất ít chất xơ, trong số nhiều yếu tố khác, làm tăng nguy cơ phát triển ung thư ruột kết. Thật vậy, chất xơ tác động lên tốc độ vận chuyển của ruột và do đó ảnh hưởng đến thời gian tiếp xúc của các chất có hại với thành ruột cũng như bản chất của hệ vi sinh vật trong ruột kết. Hành động này được kết hợp với hoạt động bảo vệ của các vitamin và khoáng chất có trong trái cây và rau quả.

Vitamin và các khoáng chất

Mối quan hệ đã được chứng minh giữa việc hấp thụ quá ít selen và tỷ lệ ung thư vú và ruột kết cao, cũng như giữa lượng vitamin A và ung thư phổi. Một lượng vitamin E tốt sẽ làm giảm khả năng xuất hiện của một số bệnh ung thư).

Hầu hết các nghiên cứu dịch tễ học lớn đã cho thấy giảm nguy cơ ung thư đường tiêu hóa và đường hô hấp ở những người tiêu thụ nhiều trái cây và rau quả tươi, từ lượng tiêu thụ 500 g mỗi ngày.

Kể từ những năm 1970, người ta đã quan tâm nhiều đến vai trò của một số vi chất dinh dưỡng đối với hiện tượng ung thư đối với tác dụng chống oxy hóa của chúng. Đó là selen, sắt, vitamin A, vitamin E và vitamin C. Chúng đóng một vai trò thiết yếu trong quá trình lão hóa và khởi phát các bệnh thoái hóa như ung thư hoặc các bệnh tim mạch.

Chất chống oxy hóa đang được nghiên cứu

Các hiện tượng oxy hóa tăng lên theo tuổi tác khi lượng hấp thụ và trạng thái của các chất chống oxy hóa giảm đi. Tuy nhiên, cụ thể là vẫn chưa biết liệu việc tăng tiêu thụ chất chống oxy hóa có thực sự làm giảm nguy cơ mắc các bệnh này hay không, nếu có thì ở liều lượng nào và trong bao lâu. Các nghiên cứu dịch tễ học can thiệp hiện đang cố gắng trả lời câu hỏi này.