Khó nuốt, bạn đã hối hận vì chiếc bánh ngọt này. Thay vì áp đảo sự không muốn của bạn và khóa tủ lạnh, bạn nên chú ý đến một khám phá gần đây. Các nhà khoa học Mỹ quy những sai lệch này là do rối loạn chức năng não. Giống như những người nghiện ma túy hoặc nghiện rượu, những người béo phì có ít thụ thể hơn đối với dopamine, một chất dẫn truyền thần kinh chịu trách nhiệm một phần cho cảm giác sảng khoái. Một khám phá như vậy mở ra những quan điểm trị liệu mới.

Các nhà nghiên cứu New York tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Brookhaven phát hiện ra rằng những người béo phì có ít thụ thể dopamine hơn và phải ăn nhiều hơn để kích thích các mạch não chịu trách nhiệm tạo khoái cảm này.

Điều tra dưới hộp sọ

gourmande

Cơ chế gây ra bệnh lý háu ăn và béo phì vẫn còn bí ẩn. Nhưng các nghiên cứu trước đây đã nhấn mạnh vai trò của dopamine trong việc điều chỉnh cảm giác hài lòng và no gây ra khi ăn thức ăn. Do đó, các nhà khoa học Mỹ muốn biết liệu, giống như những người nghiện ma túy, những người béo phì ăn uống cưỡng chế để kích thích trung tâm cảm giác này có bị tàn tật do thiếu thụ thể dopamine hay không.

Để làm được điều này, họ đã thử nghiệm lý thuyết của mình trên 10 bệnh nhân béo phì và 10 người có cân nặng bình thường. Sau khi tiêm cho mỗi tình nguyện viên một chất đánh dấu hóa học phóng xạ có đặc điểm là gắn vào các thụ thể dopamine, họ quan sát bằng chụp CT, nhờ vào một hệ thống hình ảnh rất tinh vi ( chụp cắt lớp phát xạ positron ), não của các tình nguyện viên.

Kết quả: bệnh nhân béo phì có ít thụ thể dopamine hơn. Họ sẽ ăn quá mức để bù đắp sự thiếu hụt này. Một mối tương quan nghịch giữa chỉ số khối cơ thể và số lượng các thụ thể thậm chí còn được quan sát thấy trong nhóm bệnh nhân.

Chỉ số này là kết quả của một phép tính giữa cân nặng và chiều cao của bạn, cho phép bạn đánh giá kích thước cơ thể của mình. Nếu con số này vượt quá 30, tình trạng của bạn đáp ứng định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới về béo phì ở người trưởng thành và các biến chứng có thể xảy ra.

Hướng tới một phương pháp điều trị mới cho bệnh béo phì?

Báo cáo trên tờ The Lancet, phát hiện này có thể mang lại những quan điểm mới trong việc điều trị bệnh béo phì và thừa cân, vốn ảnh hưởng đến hơn 55% dân số Mỹ. Đứng sau kỷ lục này, Pháp không được tha. Theo một cuộc điều tra của INSEE, năm 1991, 7% phụ nữ bị béo phì so với 6,3% vào năm 1980, trong khi bệnh này dường như không tiến triển ở nam giới (6,5% năm 1991 so với 6,4% năm 1980). Tháng 6 năm ngoái, INSERM tiết lộ rằng cứ 10 trẻ thì có một trẻ bị béo phì ở độ tuổi lên 10.

Nghiên cứu mới này nhấn mạnh rằng béo phì không phải là kết quả của việc thiếu ý chí và cần được coi như một căn bệnh thực sự. Các hợp chất làm thay đổi mức dopamine đã được biết là làm giảm sự thèm ăn, nhưng chúng cũng có thể là nguyên nhân gây nghiện.

Các biện pháp tự nhiên khác có thể giúp tăng nồng độ dopamine: tập thể dục.

Câu chuyện về quả trứng và con gà được ôn lại

Tuy nhiên, các chuyên gia chỉ ra rằng một nghiên cứu đơn lẻ trên 20 người không thể chứng minh rằng rối loạn chức năng này là nguyên nhân chứ không phải hậu quả của bệnh béo phì. Có phải do số lượng thụ thể dopamine thấp dẫn đến việc hấp thụ quá nhiều thức ăn hay do béo phì làm giảm số lượng các thụ thể này trong não?

Ngoài ra, một số ý kiến ​​cho rằng hệ thống dopamine điều chỉnh động lực tham gia thể thao. Nếu chúng ta chấp nhận giả thuyết này, béo phì gây khó khăn cho việc luyện tập các bài tập thể chất sẽ là nguyên nhân dẫn đến rối loạn chức năng của hệ thống dopamine.

Một bảo lưu khác: dopamine không phải là chất dẫn truyền thần kinh duy nhất liên quan đến cảm giác đói, các nghiên cứu khác đã nhấn mạnh vai trò của serotonin nói riêng. Hóa học của sự thèm ăn tạo ra chuyển động của một bộ máy phức tạp, bao gồm nhiều hợp chất.

Tuy nhiên, nếu các nghiên cứu sâu hơn khẳng định giả thuyết ban đầu của các nhà nghiên cứu Mỹ, các loại thuốc mới (không gây lệ thuộc) có thể được phát triển trong điều trị béo phì.

1 - The Lancet, ngày 03 tháng 2 năm 2001, quyển 357, n ° 9253, pp. 354-57 2 - Béo phì, Tầm soát và Phòng ngừa ở trẻ em; Chuyên môn tập thể từ Inserm; tổng hợp chuyên môn; Tháng 6 năm 2000. 3 - Acta Clin Belg. 1999 Tháng 6; 54 (3): 141-6. Med J Aust. 1998 ngày 20 tháng 4; 168 (8): 409-12.